Con mang rừng thuộc chi Muntiacus là một loại động vật hoang dã cần được chăm sóc và bảo tồn do số lượng đang dần suy giảm. Hiểu rõ hơn về con mang rừng giúp bạn đọc có ý thức bảo vệ loài vật này. Hãy cùng bài viết khám phá những thông tin và một số loài mang rừng phổ biến ngay dưới đây!

Thông tin chung về con mang rừng

Mang rừng là một dạng hươu, nai thuộc chi Muntiacus. Con mang rừng có lẽ là loại hươu xuất hiện cổ nhất được biết đến, xuất hiện vào khoảng 15-35 triệu năm trước, căn cứ trên di tích hóa thạch tìm thấy trong các trầm tích của thế Miocen tại Pháp và Đức.

Thông tin chung về con mang rừng

Các loài ngày nay còn sống có nguồn gốc nguyên thủy ở vùng Đông Nam Á cũng như ở Ấn Độ. Bản địa của loài mễn bao gồm cả vùng Hoa Nam, Đài Loan, Việt Nam và các hải đảo thuộc Indonesia. Mang hay mễn Reeves được du nhập sang Anh và nay đã sinh sản, phổ biến ở một số khu vực ở Anh quốc.

Tại Việt nam, con mang rừng có tên là hoẵng Nam Bộ có thân thon mảnh, chúng cùng loài với nai, hươu, giống như con bê con. Mang rừng nặng khoảng 30kg trung bình nặng độ 20–25 kg, nhìn bề ngoài chúng giống hệt con hươu nhưng bé hơn. Nhìn chung, chúng là loài thú cỡ nhỏ, thân hình thon nhỏ, vóc chúng có con chỉ to bằng con chó lớn.

Con mang rừng có bộ lông màu vàng sẫm, có con lông màu vàng nâu bụng trắng giống như các phân loài hoẵng khác, chỉ khác các phân loài hoẵng vó đen và hoẵng vó vàng là bốn chân màu vàng, giữa hai móng guốc có vệt trắng rõ rệt, đuôi ngắn.

Lông chúng có màu vàng sậm mướt trên lưng, trắng dưới bụng và sau đít, đầu nhỏ và lanh lợi như đầu dê, bốn chân trời sinh ra để chạy nhảy và rất nhanh nhẹn, nó chỉ cần vài cái nhảy là đã ở vị trí rất xa.

Mang rừng ăn lá, quả, cây, cỏ. Mùa sinh sản vào hai thời kỳ trong năm, từ tháng 1 đến tháng 3 và từ tháng 6 đến tháng 8. Chúng thường sống trong những cánh rừng thưa, rừng quanh nương rẫy, đồi cây, trảng cỏ cây bụi, thịt mềm ăn rất ngon. Nơi ở quang đãng thoáng mát, khô ráo ven rừng và không cố định lâu dài.

Như vậy, phần đầu của bài viết đã chỉ ra những thông tin cơ bản về con mang rừng. Tiếp theo, chuyên mục sẽ liệt kê một số loài mang rừng phổ biến ở Việt Nam cần được bảo vệ.

Một số loài mang rừng phổ biến ở Việt Nam

Mang Pù Hoạt

Con mang Pù Hoạt có tên khoa học là Muntiacus puhoatensis. Mang Pù Hoạt là động vật có vú họ hươu nai, thuộc bộ Guốc. Được miêu tả đầu tiên vào năm 1997, tìm thấy ở vùng Pù Hoạt, Quế Phong, Nghệ An. Sau đó, mang Phù Hoạt có xuất hiện ở nhiều vùng núi cao khác tại Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay số lượng loài này trở nên khan hiếm và ít khi thấy xuất hiện.

Đây là loại mang rừng không phổ biến và có nhiều hình dạng dễ lẫn với những loại mang rừng khác. Đây cũng là loài động vật hiền lành, không có khả năng gây hại với những loài thú khác nhưng đồng thời cũng dễ bị tấn công bởi những loại động vật ăn thịt.

Một số loài mang rừng phổ biến ở Việt Nam

Mang Trường Sơn

Con mang rừng Trường Sơn có tên khoa học là Muntiacus truongsonensis. Mang Trường sơn là một trong số loài mang nhỏ nhất. Mang Trường Sơn chỉ nặng khoảng 15kg và được phát hiện đầu tiên ở dãy núi Trường Sơn, Việt Nam năm 1997.

Loài vật này sống ở độ cao khoảng 400 – 1000m, ở những nơi mà kích thước nhỏ bé của nó dễ dàng di chuyển dưới những bụi cây rậm rạp. Đây là đặc tính giúp mang Trường Sơn tránh được sự tấn công và truy đuổi của kẻ thù. Hầu hết các loại mang rừng đều có khả năng di chuyển nhanh nhậy như mang Trường Sơn.

Mang Vũ Quang

Mang Vũ Quang còn được gọi là mang lớn, có tên khoa học là Muntiacus vuquangensis, họ hươu nai, thuộc bộ Guốc chẵn. Đây là loài mang rừng lớn nhất được phát hiện đầu tiên vào năm 1994 ở vườn quốc gia Vũ Quang, Hà Tĩnh. Con mang rừng này nằm trong Sách đỏ Việt Nam thuộc loài quốc hiếm, nguy cấp cần được bảo tồn.

Mang Vũ Quang là dạng hươu nai, kích thước của chúng trung bình, có họ hàng gần với loài mang Ấn Độ. Trung bình mỗi con mang này nặng khoảng 34kg. Chúng có lông mượt màu nâu bóng, có nhiều sọc đen chạy xuống đế gạc phía trong. Dọc tuyến trán, mang Vũ Quang có ít lông mịn màu đen và phía sau có hàng lông dài quanh tuyến. Tuyến lệ của chúng có một dải lông mịn màu sẫm.

Màu lông phần bụng nhạt hơn so với phần lưng. Từ cổ xuống lưng chúng có một sọc màu sẫm. Lông đuôi có một túm màu sẫm, phần phía dưới là màu trắng. Con mang rừng Vũ Quang đực có gạc lớn, dài từ 28 – 30cm, có nhánh. Nhánh chính dài từ 14 – 25cm, nhánh phụ từ 8 – 13cm và phần đế ngắm chỉ khoảng 3 – 7cm.

Hoẵng Nam Bộ

Hoẵng Nam Bộ có tên khoa học là Muntiacus muntjak annamensis, thuộc phân loài mang đỏ (Muntiacus muntjak). Hoẵng Nam Bộ là loài đặc hữu của Đông Dương, ở nước ta phân bố ở các tỉnh Đông Nam Bộ và một số khu vực khác ở Lâm Đồng.

Hoẵng Nam Bộ có đặc điểm nhận dạng là thân thon mảnh, nặng trung bình từ 20 – 25kg. Bề ngoài của con mang rừng Nam Bộ giống hệt hươu nhưng nhỏ hơn.

Hoẵng Nam Bộ sống ở các cánh rừng thưa, rừng quanh nương rẫy,cây bụi, đồi cây. Nơi ở của chúng không cố định và thường thoáng mát, quang đãng, khô ráo ở ven rừng. Chúng hoạt động vào ban đêm từ chập tối đến khi gần sáng. Vùng hoạt động của con mang rừng này thường từ 1 – 2km.

Trên đây là những thông tin về con mang rừng và một số loài mang phổ biến, đặc trưng ở Việt Nam. Đây là những loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng cao mà con người cần bảo vệ và chăm sóc. Hơn nữa, cần có những điều luật bảo vệ cho con mang rừng khỏi nạn săn bắt động vật quý hiếm để bảo vệ cho loài này. Hy vọng với những thông tin trên sẽ giúp bạn đọc thêm ý thức và trách nhiệm trong việc bảo vệ các loài thú quý hiếm tại Việt Nam.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.